Đầu tư dự án điện gió tại Việt Nam: Quy trình, thủ tục, chi phí và những vấn đề nhà đầu tư cần lưu ý

Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng và Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch sang các nguồn năng lượng sạch, điện gió đang trở thành một trong những lĩnh vực đáng chú ý trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia.

Theo Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030, tổng công suất điện gió trên bờ và gần bờ được định hướng đạt khoảng 26.066–38.029 MW. Đối với điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu điện trong nước, quy mô khoảng 6.000–17.032 MW dự kiến được đưa vào vận hành trong giai đoạn 2030–2035. Định hướng đến năm 2050, công suất điện gió ngoài khơi có thể đạt 113.503–139.097 MW. xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Những con số này cho thấy dư địa phát triển của điện gió tại Việt Nam còn lớn. Tuy nhiên, khác với một dự án đầu tư thông thường, điện gió là lĩnh vực đòi hỏi nhà đầu tư phải đồng thời giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến quy hoạch, pháp lý, tài nguyên gió, đất đai hoặc khu vực biển, môi trường, đấu nối hệ thống điện, tổng mức đầu tư và khả năng huy động vốn.

Huy động nguồn lực từ các đối tác quốc tế để hỗ trợ triển khai các dự án liên quan đến nâng cấp, xây dựng hạ tầng sản xuất, truyền tải, tích trữ, phân phối và điều hành hệ thống điện thông minh, tiên tiến, hiện đại, có khả năng tích hợp quy mô lớn các nguồn năng lượng tái tạo

Đầu tư dự án điện gió tại Việt Nam: Quy trình, thủ tục, chi phí và những vấn đề nhà đầu tư cần lưu ý

Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng và Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch sang các nguồn năng lượng sạch, điện gió đang trở thành một trong những lĩnh vực đáng chú ý trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia.

Theo Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030, tổng công suất điện gió trên bờ và gần bờ được định hướng đạt khoảng 26.066–38.029 MW. Đối với điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu điện trong nước, quy mô khoảng 6.000–17.032 MW dự kiến được đưa vào vận hành trong giai đoạn 2030–2035. Định hướng đến năm 2050, công suất điện gió ngoài khơi có thể đạt 113.503–139.097 MW. xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Những con số này cho thấy dư địa phát triển của điện gió tại Việt Nam còn lớn. Tuy nhiên, khác với một dự án đầu tư thông thường, điện gió là lĩnh vực đòi hỏi nhà đầu tư phải đồng thời giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến quy hoạch, pháp lý, tài nguyên gió, đất đai hoặc khu vực biển, môi trường, đấu nối hệ thống điện, tổng mức đầu tư và khả năng huy động vốn.

Quy trình và thủ tục đầu tư dự án điện gió

Quy trình đầu tư một dự án điện gió không chỉ đơn thuần là tìm địa điểm có tiềm năng gió rồi tiến hành xây dựng nhà máy. Trước khi dự án có thể đi vào vận hành thương mại, nhà đầu tư phải trải qua nhiều giai đoạn chuẩn bị và hoàn thiện các thủ tục pháp lý, kỹ thuật.

Khung pháp lý hiện hành về đầu tư dự án điện lực được hình thành trên cơ sở Luật Điện lực số 61/2024/QH15 cùng với Nghị định số 56/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Nghị định 56 sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 100/2025/NĐ-CP. Van Ban Chinh Phu

Rà soát sự phù hợp với quy hoạch điện

Bước đầu tiên là xác định dự án dự kiến có phù hợp với Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, kế hoạch thực hiện quy hoạch và hệ thống lưới điện có liên quan hay không.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi một khu vực có tài nguyên gió tốt chưa đồng nghĩa với việc có thể triển khai ngay một dự án điện gió.

Nhà đầu tư cần xem xét vị trí dự án, quy mô công suất dự kiến, tiến độ đưa vào vận hành, khả năng đấu nối cũng như sự đồng bộ giữa nguồn điện và hệ thống truyền tải.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh hiện xác định điện gió là một trong những nguồn điện được ưu tiên phát triển, đồng thời yêu cầu việc phát triển nguồn điện phải gắn với khả năng của hệ thống điện và hạ tầng lưới truyền tải. xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Thực hiện thủ tục đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư

Sau khi xác định tính phù hợp với quy hoạch, dự án bước sang giai đoạn thực hiện các thủ tục đầu tư.

Tùy theo quy mô, vị trí, hình thức sử dụng đất, loại dự án và chủ thể đầu tư, dự án có thể thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư hoặc các thủ tục đầu tư khác theo quy định.

Đối với dự án có nhà đầu tư nước ngoài, việc thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư còn phải được xem xét theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Vì vậy, không nên hiểu rằng tất cả các dự án điện gió đều có một bộ hồ sơ và một trình tự đầu tư hoàn toàn giống nhau.

Nghị định 56/2025/NĐ-CP hiện quy định chi tiết nhiều nội dung liên quan đến đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực. Van Ban Chinh Phu

Khảo sát và đánh giá tài nguyên gió

Sau bước chuẩn bị đầu tư, nhà đầu tư cần tiến hành khảo sát khu vực dự án và đánh giá tài nguyên gió.

Đây là một trong những cơ sở quan trọng để quyết định dự án có đủ điều kiện kinh tế để tiếp tục triển khai hay không.

Quá trình khảo sát thường bao gồm đo đạc và đánh giá tài nguyên gió, khảo sát địa hình, khảo sát địa chất, xác định vị trí đặt turbine, lựa chọn chủng loại và công suất turbine phù hợp, phân tích sản lượng điện dự kiến cũng như nghiên cứu điều kiện vận chuyển thiết bị.

Luật Điện lực 2024 cũng quy định về điều tra cơ bản tài nguyên điện năng lượng tái tạo, trong đó bao gồm tài nguyên điện gió. xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Một điểm cần lưu ý về thuật ngữ là đối với điện gió nên sử dụng khái niệm “đo đạc và đánh giá tài nguyên gió”, không nên sử dụng cụm từ “đo bức xạ gió”. “Bức xạ” là thuật ngữ thường được sử dụng trong khảo sát tài nguyên điện mặt trời.

Lập báo cáo nghiên cứu dự án

Trên cơ sở kết quả khảo sát, nhà đầu tư tiếp tục lập các hồ sơ nghiên cứu dự án theo quy định.

Tùy thuộc vào tính chất và quy mô dự án, hồ sơ có thể bao gồm báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế cơ sở và các tài liệu kỹ thuật có liên quan.

Đây là giai đoạn nhà đầu tư phải xác định tương đối đầy đủ quy mô dự án, số lượng turbine, công suất lắp đặt, phương án xây dựng, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện và hiệu quả tài chính dự kiến.

Thực hiện thủ tục môi trường

Song song với việc lập hồ sơ đầu tư, dự án phải xác định các nghĩa vụ về môi trường theo quy định.

Đối với dự án điện gió, việc đánh giá tác động môi trường có thể liên quan đến tiếng ồn, bóng nhấp nháy của turbine, tác động đến cảnh quan, hệ sinh thái, khu dân cư và đa dạng sinh học.

Đối với điện gió ngoài khơi, phạm vi đánh giá còn rộng hơn, có thể bao gồm tác động đến hệ sinh thái biển, hoạt động đánh bắt thủy sản, tuyến hàng hải và các hoạt động khai thác không gian biển khác.

Đây không chỉ là một thủ tục hành chính. Nếu các vấn đề môi trường không được đánh giá đầy đủ ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, dự án có thể phải điều chỉnh thiết kế hoặc phát sinh thêm chi phí và thời gian thực hiện.

Đến năm 2050, phấn đấu kiểm soát mức phát thải từ năng lượng không vượt quá 101 triệu tấn CO₂ tương đương, tỷ lệ năng lượng tái tạo đạt khoảng 80–85% tổng năng lượng sơ cấp

Hoàn thiện thủ tục đất đai hoặc khu vực biển

Đối với điện gió trên bờ và gần bờ, nhà đầu tư phải giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai phục vụ turbine, trạm biến áp, đường nội bộ và hệ thống truyền tải.

Tùy từng dự án, có thể phát sinh thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng.

Đối với điện gió ngoài khơi, câu chuyện phức tạp hơn do dự án còn liên quan đến việc sử dụng khu vực biển và các quy định về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Luật Điện lực 2024 cũng xác định hoạt động điều tra tài nguyên năng lượng tái tạo trên vùng biển Việt Nam phải thực hiện phù hợp với pháp luật về biển và tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Xây dựng phương án đấu nối hệ thống điện

Khả năng đấu nối là một trong những yếu tố có thể quyết định hiệu quả của cả dự án.

Nhà đầu tư phải xác định vị trí đấu nối, cấp điện áp, trạm biến áp, tuyến đường dây truyền tải và khả năng tiếp nhận công suất của hệ thống điện khu vực.

Một dự án có điều kiện gió rất tốt nhưng lưới điện không đủ khả năng giải tỏa công suất vẫn có thể đối mặt với rủi ro giảm sản lượng điện thương mại.

Đó là lý do khi đánh giá một dự án điện gió, chỉ nhìn vào công suất lắp đặt là chưa đủ. Điều quan trọng hơn là lượng điện thực tế có thể truyền tải lên hệ thống và bán ra thị trường.

Xây dựng, nghiệm thu và đưa dự án vào vận hành

Sau khi hoàn thành các thủ tục cần thiết, dự án mới bước sang giai đoạn xây dựng.

Các công việc chính bao gồm xây dựng móng turbine, đường nội bộ, trạm biến áp, đường dây đấu nối, lắp đặt turbine và hệ thống điều khiển.

Sau khi hoàn thành, dự án phải trải qua quá trình kiểm tra, thử nghiệm, nghiệm thu và đáp ứng các điều kiện về hoạt động điện lực trước khi được vận hành thương mại.

Nhìn tổng thể, một dự án điện gió thường đi qua chuỗi công việc gồm rà soát quy hoạch, thực hiện thủ tục đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư, khảo sát tài nguyên gió, lập dự án, hoàn thiện đất đai hoặc khu vực biển, thực hiện thủ tục môi trường, hoàn thiện phương án đấu nối, xây dựng, nghiệm thu và vận hành thương mại.

Tuy nhiên, đây chỉ là trình tự khái quát. Thứ tự và thủ tục cụ thể có thể thay đổi tùy theo loại dự án và điều kiện thực tế.

Điện gió ngoài khơi: Tiềm năng lớn nhưng quy trình phức tạp hơn

Điện gió ngoài khơi đang được xem là một trong những lĩnh vực có tiềm năng đáng kể trong chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh ước tính tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của Việt Nam khoảng 600.000 MW. Công suất phục vụ nhu cầu điện trong nước được định hướng đạt khoảng 6.000–17.032 MW trong giai đoạn 2030–2035 và có thể tăng lên 113.503–139.097 MW vào năm 2050. xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Tuy nhiên, điện gió ngoài khơi không đơn giản là đưa một dự án điện gió trên bờ ra biển.

Nhà đầu tư phải nghiên cứu thêm điều kiện địa chất đáy biển, hải dương học, sóng và dòng chảy, hệ thống móng turbine, cáp điện ngầm, trạm biến áp ngoài khơi, cảng hậu cần, tàu chuyên dụng và điều kiện vận hành bảo dưỡng trong môi trường biển.

Dự án cũng có thể liên quan đồng thời đến quản lý không gian biển, hàng hải, quốc phòng, an ninh và các hoạt động kinh tế biển.

Do đó, thời gian chuẩn bị một dự án điện gió ngoài khơi thường dài và yêu cầu nguồn vốn lớn hơn đáng kể so với điện gió trên bờ.

Chi phí đầu tư điện gió phụ thuộc rất lớn vào từng dự án

Một vấn đề được nhà đầu tư đặc biệt quan tâm là suất đầu tư trên mỗi MW công suất.

Trên thị trường thường xuất hiện những mức tham khảo khoảng 1,3–2 triệu USD/MW đối với một số loại dự án điện gió. Tuy nhiên, không nên coi đây là một định mức đầu tư chung.

Chi phí thực tế có thể thay đổi đáng kể tùy theo loại turbine, quy mô công suất, điều kiện địa hình và địa chất, khoảng cách đến điểm đấu nối, chi phí vận chuyển, tỷ giá, lãi suất và thời điểm triển khai dự án.

Đối với điện gió trên bờ, các nhóm chi phí lớn thường gồm turbine và thiết bị, móng turbine, đường nội bộ, hệ thống cáp, trạm biến áp, đường dây đấu nối, giải phóng mặt bằng, xây dựng và lắp đặt.

Trong khi đó, dự án ngoài khơi còn phải tính thêm chi phí khảo sát biển, móng ngoài khơi, cáp ngầm, trạm biến áp ngoài biển, tàu thi công chuyên dụng và hạ tầng cảng.

Vì vậy, việc lấy tổng mức đầu tư của một hoặc hai dự án đang triển khai rồi chia cho công suất để suy ra suất đầu tư chung cho toàn thị trường có thể tạo ra kết quả sai lệch.

Nguồn vốn quyết định khả năng triển khai dự án

Điện gió là lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn dài.

Cơ cấu tài chính của một dự án thường là sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư và vốn vay.

Ngoài tín dụng thương mại trong nước, dự án năng lượng tái tạo còn có thể tiếp cận các nguồn tài chính quốc tế, tín dụng xanh, quỹ đầu tư năng lượng hoặc quỹ đầu tư hạ tầng.

Tuy nhiên, các tổ chức tài chính thường không chỉ xem xét năng lực tài chính của doanh nghiệp.

Một dự án muốn huy động được nguồn vốn dài hạn phải chứng minh được tính pháp lý, khả năng giải tỏa công suất, sản lượng điện dự kiến, cơ chế bán điện, chi phí đầu tư, khả năng trả nợ và các rủi ro trong quá trình xây dựng, vận hành.

Đây cũng là lý do các dự án điện gió thường được đánh giá dựa rất nhiều trên dòng tiền tương lai của dự án.

Cơ chế phát triển năng lượng tái tạo tiếp tục được hoàn thiện

Bên cạnh Luật Điện lực 2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo và điện năng lượng mới. Nghị định có hiệu lực từ ngày ban hành. Van Ban Chinh Phu

Nghị định này bổ sung các cơ chế hỗ trợ đối với một số dự án năng lượng tái tạo. Chẳng hạn, dự án điện từ nguồn năng lượng tái tạo có hệ thống lưu trữ điện và đấu nối với hệ thống điện quốc gia có thể được ưu tiên huy động vào giờ cao điểm theo quy định. xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Nhà đầu tư vì vậy cần thường xuyên cập nhật cơ chế phát triển nguồn điện, cơ chế mua bán điện và các quy định liên quan đến thị trường điện thay vì chỉ dựa vào các chính sách từng áp dụng trong các giai đoạn trước.

Những rủi ro không nên bỏ qua

Một dự án điện gió có thể gặp rủi ro ngay từ giai đoạn quy hoạch nếu vị trí, công suất hoặc tiến độ không còn phù hợp với kế hoạch phát triển nguồn điện.

Sau đó là rủi ro pháp lý liên quan đến đất đai, môi trường hoặc thủ tục đầu tư.

Trong quá trình xây dựng, dự án còn có thể đối mặt với biến động giá thiết bị, tỷ giá, lãi suất và chi phí vận chuyển.

Khi đi vào hoạt động, sản lượng điện thực tế có thể khác với dự báo ban đầu do điều kiện gió hoặc khả năng giải tỏa công suất của hệ thống điện.

Đối với dự án có tỷ lệ vốn vay lớn, chỉ cần thời gian xây dựng kéo dài hoặc sản lượng điện thấp hơn kế hoạch cũng có thể ảnh hưởng đáng kể tới khả năng trả nợ.

Nhà đầu tư không nên chỉ nhìn vào công suất

Khi đánh giá dự án điện gió, công suất lắp đặt là một chỉ tiêu dễ nhìn thấy nhưng chưa phải yếu tố quyết định hiệu quả tài chính.

Một nhà máy 200 MW chưa chắc hiệu quả hơn một nhà máy 100 MW.

Điều cần quan tâm là sản lượng điện thực tế, hệ số công suất, tỷ lệ điện có thể bán được, giá bán điện, chi phí vận hành và chi phí vốn.

Ví dụ, một dự án có công suất lớn nhưng thường xuyên phải giảm phát do hạn chế của lưới điện có thể cho hiệu quả đầu tư thấp hơn một dự án nhỏ nhưng có khả năng đấu nối và giải tỏa công suất tốt.

Vì vậy, trước khi quyết định đầu tư, nhà đầu tư cần xây dựng mô hình tài chính với nhiều kịch bản khác nhau về sản lượng điện, giá điện, lãi suất, tỷ giá, tiến độ đầu tư và khả năng giảm phát.

Điện gió vẫn là lĩnh vực nhiều dư địa nhưng không phải cuộc chơi đơn giản

Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu phát triển điện gió khá lớn trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đặc biệt đối với điện gió ngoài khơi.

Tuy nhiên, tiềm năng tài nguyên chỉ là điều kiện ban đầu.

Một dự án thực sự khả thi phải đồng thời đáp ứng được yêu cầu về quy hoạch, đầu tư, đất đai hoặc khu vực biển, môi trường, kỹ thuật, đấu nối và tài chính.

Đối với nhà đầu tư, điều quan trọng không phải chỉ là tìm được nơi có gió tốt, mà là xây dựng được một dự án có đầy đủ hành lang pháp lý, có khả năng giải tỏa công suất và tạo ra dòng tiền ổn định trong dài hạn.

Chính vì vậy, trước khi đưa ra quyết định đầu tư, việc thực hiện nghiên cứu tiền khả thi, đánh giá pháp lý và xây dựng mô hình tài chính chi tiết là bước gần như không thể thiếu đối với một dự án điện gió.

Căn cứ tham khảo

Bài viết được xây dựng trên cơ sở Luật Điện lực số 61/2024/QH15; Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII; Nghị định số 56/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025; Nghị định số 100/2025/NĐ-CP ngày 08/5/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 56/2025/NĐ-CP; và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới.

Kiểm toán quyết toán dự án đầu tư điện gió.

💬